Thứ Sáu, 19 tháng 12, 2008

0004 - Dân chủ cần dân trí hay ngược lại?

Những người đấu tranh dân chủ trong nước kêu gọi lãnh đạo Cộng sản Việt Nam (CSVN) hãy để tiến trình dân chủ phát triển ở Việt Nam, để được hoạt động bình thường và có quyền nói lên tiếng nói của họ giống như những quyền tự do báo chí, thành lập đài phát thanh mà đảng CSVN đang có. Những yêu cầu hợp lý đó đều bị đảng CSVN bác bỏ và những người dám đòi hỏi những quyền tự do cơ bản đó bị bỏ tù như trường hợp các Luật Sư Nguỳễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân, Linh Mục Nguỳễn Văn Lý, ông Phạm Hồng Sơn và nhiều người khác nữa.

CSVN thì cứ tiêu diệt quyền dân chủ bằng lý lẽ nghe dường như hợp lý, đó là phải dân chủ từ từ vì dân chủ cần có dân trí nếu không thì sẽ loạn. Nóì như vậy thì lãnh đạo CSVN đã mặc nhiên công nhận là chế độ độc tài CS tồn tại là do dân trí VN thấp kém. Nếu cứ tiếp nối lý luận như thế thì đưa đến kết luận là muốn tiếp tục bảo vệ chế độ CS thì giữ cho dân trí thấp kém.

Tuy nhiên, khi tuyên bố trên báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình, trong chương trình học chính trị thì đảng lại dạy rằng dân tộc VN là một dân tộc anh hùng, dân tộc cần cù, thông minh, tiến bộ, là đỉnh cao trí tuệ của loài người. Cứ kiểu lý luận như thế thì nước VN đã có dân chủ từ thời Bác Hồ mới rời khỏi hang Pác Pó.

Đảng đã nói dân chủ cần dân trí. Đang ngất ngưởng trên đỉnh cao trí tuệ loài người thì đã quá mức dân trí bình thường.

Hiện tại nước VN và người dân VN đã có dân chủ hay chưa? Đã ở đỉnh cao trí tuệ 50 năm mà vẫn chưa có dân chủ thì chúng ta có thể kết luận chắc như đinh đóng cột là lãnh đạo CSVN đang bịp bợm để kéo dài quyền lực, và dùng quyền lực để bóc lột, cướp bóc, tham nhũng, hưởng thụ và cứ để đám dân đen đói khổ bị lường gạt ngồi chờ dân trí tăng trưởng để đưa đến dân chủ.

Chúng ta hãy nhìn vào hành động và nhất là chương trình giáo dục của CSVN từ tiểu học cho đến đại học để thấy được mục đích của người CS là cải tiến dân chủ hay tiêu diệt dân chủ. Ở cấp tiểu học thì các em đã được dạy 5 điều Bác dạy, học tập gương Bác Hồ và tôn vinh Bác như Bác đã tự tôn vinh là cha gìa dân tộc. Lên trung học thì học lich sử của đảng CSVN, học chủ thuyết Mác-Lê và hình ảnh Bác Hồ lại được đánh bóng tối đa và sáng rực rỡ như mặt gương dưới ánh đèn, bên cạnh đó là hình ảnh các anh hùng cách mạng đã lỡ dại theo Bác, bị Bác lợi dụng cho đến lúc qua đời vẫn chưa biết là đã bị lừa gạt. Lên đại học thì vẫn tiếp tục học tư tưởng Bác Hồ, học thơ Bác Hồ và học cách xử dụng súng AK-47, B40 để nếu cần thì hy sinh tính mạng để bảo vệ đảng CSVN từ các thế lực thù địch.

Dĩ nhiên các thế lục thù địch không bao gồm Hoàng Đế Trung Hoa đang chiếm đất, chiếm biển của VN mà chỉ bao gồm các thành phần đòi dân chủ. Ở các nước phát triển khoa học thì mỗi năm họ làm ra chips điện tử tối tân hơn, nhỏ hơn, chạy nhanh hơn, ít tốn đìện hơn mà họ chẳng cần học tập tư tưởng và đạo đức Bác Hồ và thậm chí chẳng biết Bác Hồ là ai. Ở VN thì ai cũng bị biết Bác Hồ và phải học tập và sống theo tư tưởng và đạo đức Bác. Tư tưởng Bác và đạo đức Bác đã đi sâu vào quần chúng nên VN đã và đang phát triển nghành khoa học bịp bợm. Chúng ta có thể kết luận là Bác Hồ là người đầu tiên trên thế giới phát minh khoa học bịp bợm. Phải gọi là khoa học bịp bợm vì nó phát triển có hệ thống, có nghiên cứu và đưa đến thực dụng là làm ra lợi nhuận cho các nhà phát minh bịp.

Khi mà cái bịp đã bị bại lộ và không xài được thì phải tranh thủ, nghiên cứu và phát minh ra bịp mới thật sớm, thật gọn nhẹ và ít tốn chi phí. Thí dụ nhỏ cho một phát minh của khoa học bịp, muốn đưa hối lộ một cách hợp pháp cho cán bộ thì cứ mời cán bộ ra sân tennis mà đánh cá độ vài ngàn đô. Cán bộ chỉ cần khều banh qua lưới là thắng vài ngàn đô la. Trên bình diện bịp lớn hơn về lãnh thổ và lãnh hải thì khi muốn dâng đất, nhượng biển, triều cống tài nguyên cho thiên triều TQ thì đảng CSVN chỉ cần bịp dân là vừa ký thỏa hiệp đánh cá chung, khai thác dầu khí chung mà chúng ta phải hiểu là các thoả hiệp chung đó trên các vùng biển của VN và VN không được huởng lợi hay chỉ được một phần tượng trưng để lãnh đạo có cớ tiếp tục bịp dân. Ngành khoa học bịp bợm này phát triển nhanh hơn cả khoa học đìện toán ở Hoa Kỳ. Ai tốt nghiệp trường đảng thì sẽ phát minh ra sản phẩm đại bịp là “dân chủ cần dân trí.”

CSVN có thực sự muốn phát triển dân trí để đưa đến dân chủ như lý luận của họ là dân trí đi trước dân chủ tới sau? Đối với những con người tốt nghiệp khoa học bịp từ trường đảng thì ta phải nhìn vào hành động của họ mà phán xét. Nếu chỉ nghe các Tiến Sĩ khoa học bịp nói thì dân chủ chỉ tới khi hồn lìa khỏi xác. ông Phạm Hồng Sơn chỉ dịch một bài Dân Chủ Là Gì từ website của bộ ngoại giao Hoa Kỳ thì đã bị CSVN cho gở 3 cuốn lịch trong tù. Hoa Kỳ là nước dân chủ nhất hoàn cầu mà tài liệu dân chủ của họ bị cấm không cho dân VN đọc thì đã quá rõ ràng như ngày và đêm là CSVN chẳng muốn có dân trí để đi đến dân chủ. Người hoạt động vì dân chủ trong nước thì không được quyền hội họp, không được phát hành báo để truyền bá kiến thức dân chủ tới đại đa số người dân. Những người đòi hỏi quyền dân chủ thì đang ở tù như Ls. Đài và Ls. Công Nhân. Website Báo DCVOnline thì bị tường lửa ngăn chận, chương trình học thì không dạy thế nào là dân chủ mà chỉ dạy thuyết Mác-Lê, ca ngợi Bác, người dân không được quyền ứng cử nếu không được Mặt Trận Dân Tộc Tổ Quốc là một bộ phận của CSVN giới thiệu. Người dân không được quyền bầu Chủ Tịch nước, Thủ Tướng. Công an có quyền cao hơn hiến pháp, báo chí chỉ loan tin do nhà nước cho phép.

Từ những hành động trên của đảng CSVN để tiêu diệt dân chủ thì chiêu bài “dân chủ cần dân trí” chỉ là một sản phẩm bịp bợm.

Chúng ta có thể kết luận là dân trí cần dân chủ hay ít ra là dân trí phải song hành với dân chủ. Thiếu dân chủ thì dân trí không thể phát triển được vì những tên độc tài bóp chết tự do ngôn luận thì làm sao có thể truyền bá các kiến thức dân chủ. Thiếu dân chủ thì không thể vận dụng được hết những tinh hoa của dân tộc và khiến cho dân tộc yếu kém và dễ bị xâm lấn lãnh thổ hay bị nô lệ quyền lực vào tay Hoàng Đế Trung Hoa.Các nước Ba Lan, Tiệp Khắc, Hung Gia Lợi, Đông Đức, Nga, Georgia, Uzbekistan họ chỉ đứng lên làm cách mạng lật đổ chế độ CS và chuyển qua thể chế dân chủ trong một tuần hay một tháng. Nếu theo lý thuyết bịp của đảng là dân chủ cần dân trí thì dân trí của các quốc gia kể trên đã từ dưới đáy vực vọt lên đỉnh cao trí tuệ chì tốn vài ngày trong khi đó dân trí VN đã tốn vài chục năm mà đảng CSVN cho là vẫn chưa đủ trình độ đi đến dân chủ.

Dân trí và dân chủ thật là một đề tài đầy máu và nước mắt mà dân tộc VN cần phải suy nghỉ và hành động khi những tinh hoa đất nước đang sống trong tù ngục của tập đoàn độc tài CSVN. Vấn đề chính là khai tử độc tài thì dân chủ mới có cơ hội để hình thành và phát triển cho dù dân trí thấp hay cao.
   

Tác giả: Hoàn Nguyên

© DCVOnline    

Thứ Ba, 16 tháng 12, 2008

0003 - Dân tộc Việt Nam không thể tiến bộ được, đừng phí sức nữa!



Chế độ Cộng Sản ngày càng lớn mạnh, còn các lực lượng chống đối chế độ này thì ngày càng èo uột, quặt quẹo và chết giãy đành đạch. Cho dù có dùng biện pháp nào, dùng chiến thuật nào, luận điệu nào đi nữa, dù có đổi tên, thay lông đến mấy, từ chống cộng điên cuồng kiểu các loại mặt trận phục quốc của Hoàng Cơ Minh hay Quốc dân đảng ... rồi tới cái áo dân chủ, nhân quyền gì gì đi nữa, thì cũng không làm sứt mẻ một cái lông chân của cộng sản.

Các bạn có biết tại sao không? Tại vì bản chất trong máu của dân tộc Việt Nam đã giúp cho cộng sản sinh sôi và tồn tại. Bản chất của dân tộc này là không thể cải tạo

I. Có bao nhiêu dân tộc chấp nhận Chủ Nghĩa Cộng Sản?

Trước đây, có rất nhiều đấy, nhưng có mấy dân tộc chịu chấp nhận chủ nghĩa cộng sản dài đến thế? Nước Đức sinh ra Marx, nhưng chủ nghĩa do Marx đề ra không được nước Đức chấp nhận mà chỉ bén rễ tại Nga, rồi bùng phát tại Đông Âu khi bị Liên Xô áp đặt sau thế chiến thứ 2. Nhưng thành trì chủ nghĩa xã hội cũng sụp đổ sau 70 năm. Nó sụp đổ vì cái gì? Lí do chính không phải vì phương Tây phá hoại gì đâu, lí do chính là nhân dân của các nước này không chấp nhận chủ nghĩa cộng sản, nên đã đứng dậy lật đổ nó. Còn 4 nước cộng sản hiện nay, thì đều là những dân tộc hèn kém cả, nên chấp nhận Chủ Nghĩa Cộng Sản chứ không phải là họ không thể lật đổ nó được.

II. Dân tộc Việt Nam, một dân tộc nhút nhát và chỉ biết sao chép

Việt Nam, đứa con lai giữa dân tộc Trung Hoa vĩ đại và người bản xứ. Nhưng bất hạnh là đứa con lai này lại thừa hưởng tất cả những đặc điểm di truyền thấp kém của cả cha lẫn mẹ. Đó là một dân tộc nhỏ nhen, tham lam, nhưng nhút nhát, dễ mủi lòng, dễ an phận. Đó là một dân tộc không bao giờ biết sáng tạo, mà chỉ biết say mê sao chép những gì mà Trung Quốc đã làm (Đứa con chỉ biết bắt chước cha, không bao giờ dám nghĩ đến việc gì khác cái mà cha mình đã làm).

Hãy nhớ lại, ngay cả chế độ Việt Nam cộng hòa trước 1975, thì thần tượng của Nguyễn Văn Thiệu là Tưởng Giới Thạch tại Đài Loan, một kẻ bại trận.

Còn miền Bắc, sau này là cả nước, thì say mê sao chép mô hình Trung Quốc. Cứ nhìn vào chế độ Việt Nam hiện nay, ai cũng có thể thấy nó chỉ là một bản sao của Trung Quốc, nhưng là bản sao vụng về.

Có ai tự hỏi rằng tại sao Việt Nam chưa bao giờ và sẽ không bao giờ có một nhà tư tưởng lớn? Ngay đến như Trung Quốc còn sản sinh ra được những nhà tư tưởng như Khổng Tử, Lão Tử... Nhưng Việt Nam thì tuyệt nhiên không có nhà tư tưởng nào cả. Việt Nam chỉ có những chuyên gia sao chép chứ không có chuyên gia sáng tạo, nhưng lại là sao chép một cách vụng về.

Các dân tộc anh hùng như người Mông Cổ và người Mãn, có trình độ chiến tranh hơn hẳn nên đã chinh phục được Trung Nguyên. Nhưng khi vào Trung Nguyên, họ đều bị người Hán đồng hóa. Nếu Việt Nam giỏi tương tự người Mông Cổ và người Mãn, đến mức chinh phục được phương Bắc, thì dân tộc Việt Nam này cũng đã bị đồng hóa mất rồi. Việt Nam còn tồn tại đến ngày nay, không bị Trung Quốc đồng hóa, chỉ là vì khả năng quân sự và trình độ sao chép quá kém, chứ không phải là giữ nước oanh liệt gì cả.

Dân tộc Việt Nam chưa bao giờ và sẽ không bao giờ có được những đặc tính thể hiện bản chất của người châu Âu, hay chỉ là của người Đông Âu, đó là các đức tính: say mê tìm tòi và khám phá, yêu tự do, và sự công bằng, quyết liệt bảo vệ tự do và công bằng. Vì những đức tính đó, mà người châu Âu mới có những nhà phát minh khoa học, có những nhà tư tưởng chính trị, triết học kiệt xuất như Newton, Montesquieu... Đừng ai ngụy biện rằng Việt Nam đã có hay “sẽ có” một vài người nào đó ... Những cái gọi là những tư tưởng kiểu Chu Văn An, Nguyễn Trường Tộ... cũng chỉ là những ý tưởng vụn vặt và sao chép. Sao chép Trung Quốc, không có tính sáng tạo là bản chất của người Việt Nam.

Ngày nay, một ví dụ rất dễ thấy là một người Việt Nam nào đó mở quán bán phở chẳng hạn, đông khách là vài tháng sau sẽ thấy nhà bên cạnh cũng mở quán bán đúng mặt hàng đó: phở. Nhà hàng xóm này không bao giờ biết nghĩ đến mặt hàng nào khác ngoài phở như bánh canh hay bún chả, mà chỉ biết đến phở. Các nhà hàng xóm khác cũng như vậy và cuối cùng hình thành nên một... khu phố phở (!)

III. Trung Quốc luôn luôn đi trước, Việt Nam sẽ theo sau

Thời phong kiến, Trung Hoa xưng đế, thì VN cũng bắt chước, lén xưng đế (dù không dám xưng hô như thế trước mặt họ). Trung Hoa đề cao Khổng Mạnh để trị quốc, thì VN cũng bắt chước, dùng Nho giáo để cai trị.

Thời hiện đại, Trung Quốc có cộng sản thì Việt Nam cũng có cộng sản. Trung Quốc cải cách ruộng đất thì Việt Nam cũng cải cách ruộng đất. Trung Quốc cải cách mở cửa thì Việt Nam đổi mới mở cửa. Có một vài giai đọan ngắn, Việt Nam ngả về các nước phương Tây, trước là Pháp, rồi Mỹ, sau là Liên Xô, nhưng về bản chất, Việt Nam không bao giờ thay đổi khuynh hướng của mình, đó là sao chép Trung Quốc.

Tưởng Giới Thạch, một anh hùng của phong trào quốc gia tại Trung Quốc, người tham gia cách mạng tư sản Trung Quốc, rồi lãnh đạo kháng Nhật, nhưng vẫn không thể lãnh đạo được dân tộc Trung Hoa, mà phải chịu thua trước cộng sản Trung Quốc. Vì bản chất của dân tộc Trung Hoa cũng không mấy khác dân tộc Việt Nam (cha con một nhà).

Hãy tự hỏi có ở đâu mà người dân còn cho rằng cướp của người giàu, chia cho người nghèo là hợp đạo lí: Việt Nam. Những tư tưởng bệnh hoạn như ghen tị, nhỏ nhen nhưng tham lam, không biết phấn đấu bằng con đường cạnh tranh mà chỉ tìm cách xỏ lá để chiếm đoạt của người khác... chỉ tồn tại ở mảnh đất Việt Nam này (hay Trung Quốc cũng vậy), nó là lí do giúp chủ nghĩa cộng sản sinh sôi và phát triển.

Có ý kiến bảo rằng dân tộc ta không nhút nhát vì nhiều người dám hi sinh trong 2 cuộc kháng chiến. Không, buổi đầu cách mạng, chủ yếu là những tay anh chị, sẵn sàng thí mạng mình. Giấc mơ của họ là giấc mơ cướp của người khác làm của mình.

Do vậy, nên cải cách ruộng đất ở Việt Nam mới thành công đến thế (Trung Quốc cũng vậy). Sau đó, trong giai đoạn sau, thì chỉ còn những người bị lừa bịp về "một đất nước to đẹp hơn gấp mười lần". Nhưng tựu trung lại, tất cả đều chạy theo giấc mơ mà trong đó họ mong muốn sự giàu sang bằng cách chiếm đoạt, chứ không phải vươn lên bằng sự cạnh tranh.

Hãy nhớ rằng người Việt Nam không hề có khái niệm về cạnh tranh mà chỉ có khái niệm về chơi xỏ đối phương. Nếu ở các dân tộc Anglo-Saxon, hai nhà hàng cạnh nhau, thì họ sẽ cạnh tranh bằng chất lượng: món ăn ngon hơn, phục vụ lịch thiệp hơn, chăm sóc khác hàng chu đáo hơn, giá cả rẻ hơn ... Nhưng ở Việt Nam (hay Trung Quốc cũng vậy), thì hai chủ quán sẽ chơi xỏ nhau bằng cách: nói xấu lẫn nhau, cho người làm đứng ra đường tranh giành khách của nhau, rồi dẫn đến kết cục không bao giờ thiếu: đâm chém, đánh chửi nhau!

Trung Quốc sẽ luôn đi trước, Việt Nam sẽ luôn đi sau và chỉ biết sao chép. Do vậy, dân chủ, tự do, nếu có, sẽ phải diễn ra từ Trung Quốc, rồi lan truyền vào Việt Nam, chứ không bao giờ có chiều ngược lại. Nhưng hãy nhìn Trung Quốc, dân tộc Trung Quốc cũng có những đặc tính y hệt Việt Nam, các bạn tự hiểu rằng khả năng dân chủ, tự do ở Trung Quốc là không bao giờ có. Do vậy, dân chủ, tự do tại Việt Nam cũng sẽ không bao giờ có.

IV. Kết luận

Cái sai, cái bệnh hoạn là từ trong máu của dân tộc Việt Nam rồi, vì nó là sản phẩm di truyền của văn hóa Khổng Mạnh Trung Quốc. Sai là sai từ trong bản chất, nên không thể cải tạo được. Các bạn trong diễn đàn này, hay các diễn đàn, mặt trận, phong trào khác, có thể người đã nhận ra, có người không. Nhưng những việc mà các bạn đang làm, nhằm cố gắng cải tạo xã hội đều chỉ là vô ích. Kết cục sẽ chẳng được cái gì cả, vì dân tộc Việt Nam là một dân tộc không thể cải tạo. Tôn Trung Sơn, Tưởng Giới Thạch, còn không cải tạo nổi dân tộc Trung Hoa, thì dân tộc Việt Nam, vốn không hề có một bản sao nào xứng đáng như Tôn Trung Sơn, Tưởng Giới Thạch, thì làm sao mà cải tạo được.

Nếu dân tộc Việt Nam tiến bộ được thì nó đã tiến bộ từ lâu rồi, sau hơn một trăm năm tiếp xúc với nền văn minh phương Tây do người Pháp đến khai hóa văn minh. Hoặc nó đã tiến bộ từ thời Mỹ ở miền Nam Việt Nam rồi,
chứ không phải lại đi ủng hộ Cộng Sản, "đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào" làm gì.

Cho dù các bạn cố đến mấy, dù những sự thật hiển hiện rõ mồn một về bản chất cái chế độ Cộng Sản thối tha và đầy tội ác này có thể hiện nhiều đến mấy đi nữa thì dân tộc Việt Nam này, một dân tộc nhút nhát và hèn kém, sẽ lại chỉ bịt mắt bịt tai mình, giống hệt Việt Nam hiện nay chỉ biết bịt mắt bịt tai trước những sự thật thể hiện bản chất của chế độ cộng sản: bịt mồm bị cáo Nguyễn Văn Lý tại tòa, bịt mồm báo chí trong vụ xử tù phóng viên hậu PMU18... Hay như bây giờ, Hà Nội lụt lội, chết người, đảng cộng sản vẫn thờ ơ và phát biểu lếu láo.

Do vậy những việc làm của các bạn nhằm khai sáng tư tưởng dân chủ, tự do, tiến bộ của nhân loại cho dân tộc Việt Nam sẽ không bao giờ thành công được.

Vì dân tộc này bệnh hoạn từ trong bản chất, nên sẽ không bao giờ chịu tiếp thu những tư tưởng tiến bộ đó đâu.

Việt Nam đã, đang và sẽ mãi là mảnh đất màu mỡ của Chủ nghĩa Cộng Sản. Những việc các bạn làm là viển vông và chỉ là tự phí sức lực và thời gian của chính mình.

Việt Nam đã, đang, và vẫn sẽ mãi mãi là nước nghèo, hèn, lạc hậu nhất thế giới nhưng luôn tự huyễn hoặc rằng mình là tiến bộ nhất, ưu tú nhất, phát triển nhất của nhân loại (kết quả của lối tư duy thủ dâm tư tưởng kiểu đỉnh cao trí tuệ xã hội chủ nghĩa).

Diễn đàn này cũng như nhiều diễn đàn khác lập ra, tiếp nối sau biết bao phong trào phục quốc của các lực lượng hải ngoại kết hợp với cơ sở quốc nội. Mục đích chung đều là nhằm làm cho người dân Việt Nam thấy rõ được bộ mặt thật bẩn thỉu và vấy máu của chế độ Cộng Sản, để cùng đứng lên lật đổ chế độ thối nát bạo tàn này.

Nhưng hãy bình tâm nhìn lại, sau hơn 30 năm, kết quả thu được vẫn là con số 0 tròn trĩnh. Và sau 300 năm kế tiếp, con số 0 đó vẫn tròn y như thế.


Chủ Nhật, 14 tháng 12, 2008

0002 - Tin khẩn: VN sắp mất thêm Bãi Tục Lãm, Quảng Ninh


Bãi Tục Lãm sát với biên giới Việt-Trung có thể rơi vào tay Trung Quốc

Bãi Tục Lãm trên hình vệ tinh

Bãi Tục Lãm trên hình vệ tinh

Theo nguồn tin từ giới quân sự cao cấp Việt Nam và được kiểm chứng qua một số thành viên ngoại giao đoàn tại Hà Nội thì Bắc Kinh đang đòi buộc Việt Nam phải nhượng thêm Bãi Tục Lãm thuộc tỉnh Quảng Ninh cho họ trước khi dứt điểm kế hoạch cắm cột mốc dọc theo biên giới 2 nước. Trung Quốc đòi các lãnh tụ CSVN phải trả lời dứt khoát tại cuộc họp giữa đôi bên ngày 12/12/2008 tại vùng Hữu Nghị - Lạng Sơn.

Tục Lãm là một trong 3 điểm nóng nhất còn bàn cãi giữa đôi bên. Hai vùng còn lại là khu Bản Giốc và khu mộ Cao Bằng. Phía Trung Quốc đòi Việt Nam phải nhượng hẳn Tục Lãm và nhượng thêm đất 2 vùng kia.

Cũng theo nguồn tin trên, các thành viên Bộ Chính Trị đảng CSVN đã nghiêng về giải pháp giao nhượng Bãi Tục Lãm bất kể sự phản đối từ phía quân đội.

Radio CTM tường trình từ Hà Nội
Nguồn: http://radiochantroimoi.wordpress.com/

0001 - Bản tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền.


Xét rằng: Sự công nhận nhân phẩm của tất cả con người trong đại gia đình nhân loại và những quyền bình đẳng không thể tước đoạt của họ là nền tảng của tự do, công lý và hòa bình trên thế giới.

Xét rằng: Hành vi xem thường và chà đạp nhân quyền đã dẫn đến những hành động man rợ, xúc phạm đến lương tâm nhân loại. Việc tiến đến một thế giới trong đó tất cả mọi người được hưởng sự tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, không còn lo sợ hãi và nghèo khó, phải được tuyên xưng như là ước vọng cao nhất của con người.

Xét rằng: Nhân Quyền cần phải được bảo vệ bằng luật pháp, để con người không bị bắt buộc phải sử dụng đến biện pháp cuối cùng là vùng dậy chống lại độc tài và áp bức.

Xét rằng: Mối quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia cần được khuyến khích và mở rộng.

Xét rằng: Trong Hiến Chương, các dân tộc của cộng đồng Liên Hiệp Quốc đã lại một lần nữa xác định niềm tin vào những quyền căn bản của con người, vào nhân phẩm và giá trị con người, vào quyền bình đẳng nam nữ và cũng đã quyết định cổ vũ cho các tiến bộ xã hội và cải tiến mức nhân sinh trong bối cảnh ngày càng tự do hơn.

Xét rằng: Các quốc gia hội viên đã cam kết hợp tác với Liên Hiệp Quốc, nhằm cổ vũ việc tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do căn bản.

Xét rằng: Sự hiểu biết chung về nhân quyền và tự do là điều tối quan trọng để có thể thực hiện đầy đủ sự cam kết trên.

Do đó, Ðại Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc long trọng công bố Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền này như là một khuôn mẫu chung cần đạt tới của mọi dân tộc và quốc gia, nhằm giúp cho mọi cá nhân và thành phần của xã hội luôn luôn theo sát tinh thần của Bản Tuyên Ngôn, dùng sự truyền đạt và giáo dục, để nỗ lực phát huy sự tôn trọng các quyền tự do này.

Mặt khác, bằng những phương thức tiến bộ trong phạm vi quốc gia cũng như quốc tế, phải bảo đảm sự thừa nhận và tuân hành Bản Tuyên Ngôn một cách có hiệu lực, trong các dân tộc của các nước thành viên, và ngay cả trong những người dân sống trên các phần đất thuộc quyền cai quản của các nước đó.

Ðiều 1: Mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền. Mọi người đều được phú bẩm về lý trí và lương tâm và vì thế phải đối xử với nhau trên tinh thần bác ái.

Ðiều 2 : Mọi người đều được hưởng tất cả những quyền và tự do được công bố trong Bản Tuyên Ngôn này và không có một sự phân biệt nào, như chủng tộc, màu da, phái tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay tất cả quan điểm khác, quốc tịch hay nguồn gốc xã hội, tài sản, nơi sinh, hay tất cả những hoàn cảnh khác. Hơn nữa, cũng không được có sự phân biệt nào đối với con người sống trên một quốc gia hay trên một lãnh thổ, căn cứ trên cơ chế chính trị, nền tảng luật pháp hay quy chế quốc tế của quốc gia hay lãnh thổ đó. Cho dù quốc gia hay lãnh thổ này độc lập hay dưới sự bảo hộ, không được tự trị hay ở trong tình trạng bị hạn chế về chủ quyền.

Ðiều 3: Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an toàn cá nhân.

Ðiều 4: Không ai bị cưỡng bức làm nô lệ hay tôi đòi. Chế độ nô lệ và buôn bán nô lệ dưới mọi hình thức đều bị nghiêm cấm.

Ðiều 5: Không một người nào phải chịu cực hình, tra tấn, hay bất kỳ hình thức đối xử, hoặc trừng phạt bất nhân, hay có tính cách lăng nhục.

Ðiều 6: Ở bất cứ nơi nào, mỗi người đều có quyền được công nhận tư cách con người của mình trước pháp luật.

Ðiều 7: Tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, và phải được bảo vệ một cách bình đẳng, không kỳ thị phân biệt. Tất cả đều được quyền bảo vệ ngang nhau, chống lại mọi kỳ thị vi phạm Bản Tuyên Ngôn này, cũng như chống lại mọi kích động dẫn đến kỳ thị như vậy.

Ðiều 8: Mọi người đều có quyền được bảo vệ và bênh vực bởi các cơ quan tư pháp quốc gia có thẩm quyền về các hành vi vi phạm các quyền căn bản, do Hiến Pháp và Luật Pháp quy định.

Ðiều 9: Không một ai bị bắt bớ, cầm tù hay lưu đày một cách độc đoán.

Ðiều 10: Mọi người đều có bằng nhau quyền được phân xử công khai và công bằng, trước một tòa án độc lập và vô tư, để được phán quyết về các quyền lợi và nhiệm vụ của mình, hay về những tội phạm mà mình bị cáo buộc.

Ðiều 11:

  1. Khi truy tố trước pháp luật, mọi người được xem là vô tội, cho đến khi pháp luật chứng minh là có tội, trong một phiên tòa công khai và tòa án này phải cung ứng tất cả mọi bảo đảm cần thiết cho quyền biện hộ của đương sự.
  2. Không ai có thể bị kết án khi có những hành động hay sơ suất xảy ra vào lúc mà luật pháp của quốc gia hay quốc tế không qui định đó là một hành vi phạm pháp. Tương tự như vậy, không được áp đặt một hình phạt nào nặng hơn hình phạt được ấn định vào lúc hành vi phạm pháp xảy ra.

Ðiều 12: Không một ai bị xâm phạm một cách độc đoán về đời sống riêng tư, gia đình, nhà ở, hay thư tín, cũng như bị xúc phạm danh dự hay tiếng tăm của mình. Mọi người đều có quyền được luật pháp bảo vệ, trước những xâm phạm và xúc phạm như vậy.

Ðiều 13:

  1. Mọi người có quyền tự do di chuyển và cư trú, trong phạm vi biên giới của quốc gia.
  2. Mọi người đều có quyền rời khỏi lãnh thổ bất kỳ nước nào, kể cả nước của mình, và quyền trở về xứ sở

Ðiều 14:

  1. Trước sự ngược đãi, mọi người đều có quyền tị nạn và tìm sự dung thân tại các quốc gia khác.
  2. Quyền này không được kể đến, trong trường hợp bị truy nã thật sự vì các tội phạm không có tính chính trị, hay do những hành vi trái với những mục tiêu và nguyên tắc của Liên Hiệp Quốc.

Ðiều 15:

  1. Mọi người đều có quyền có quốc tịch.
  2. Không một ai bị tước bỏ quốc tịch, hay bị từ chối quyền thay đổi quốc tịch, một cách độc đoán.

Ðiều 16:

  1. Nam và nữ trong tuổi trưởng thành có quyền kết hôn và lập gia đình, mà không bị hạn chế về lý do chủng tộc, quốc tịch hay tôn giáo. Nam nữ đều có quyền bình đẳng lúc kết hôn, trong đời sống vợ chồng và lúc ly hôn.
  2. Hôn nhân chỉ có thể tiến hành khi cả hai đều được tự do quyết định và đồng ý thật sự.
  3. Gia đình phải được xem là một đơn vị tự nhiên và căn bản của xã hội, và được quyền bảo vệ của xã hội và quốc gia.

Ðiều 17:

  1. Mọi người đều có quyền sở hữu tài sản cá nhân cũng như tập thể.
  2. Không ai có thể bị tước đoạt tài sản của mình một cách độc đoán.

Ðiều 18: Mọi người đều có quyền về tự do tư tưởng, nhận thức và tôn giáo. Quyền này bao gồm cả quyền tự do thay đổi tôn giáo hay tín ngưỡng, cũng như quyền tự do biểu lộ tôn giáo hay tín ngưỡng của mình, với tư cách cá nhân hay tập thể, ở nơi công cộng hay nơi chốn riêng, bằng sự truyền dạy, thực hành, thờ phượng và áp dụng các nghi thức đạo giáo.

Ðiều 19: Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm. Quyền này bao gồm sự tự do quan điểm mà không bị xen vào quấy rầy và được tự do tìm kiếm, thu nhận và quảng bá tin tức và tư tưởng qua mọi phương tiện truyền thông bất kể biên giới.

Ðiều 20:

  1. Mọi người đều có quyền tự do hội họp và lập hội, một cách ôn hòa .
  2. Không một ai có thể bị cưỡng bách gia nhập vào một đoàn thể.

Ðiều 21:

  1. Mọi người đều có quyền tham gia vào việc điều hành xứ sở của mình, một cách trực tiếp hay qua các đại biểu được tuyển chọn một cách tự do.
  2. Mọi người đều có quyền đón nhận những dịch vụ công cộng của quốc gia một cách bình đẳng.
  3. Ý muốn của người dân phải là nền tảng của quyền lực chính quyền. Ý muốn này phải được thể hiện qua các cuộc bầu cử định kỳ và thực sự , bằng phiếu kín, qua phương thức phổ thông và bình đẳng đầu phiếu, hay các phương thức tương đương của bầu cử tự do.

Ðiều 22: Vì là thành viên của xã hội, mỗi người đều có quyền an ninh xã hội, qua các cố gắng của quốc gia và hợp tác quốc tế, dựa theo phương cách tổ chức và tài nguyên của mỗi nước. Quyền này được đặt trên căn bản của sự thụ hưởng những quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa, cần thiết cho nhân phẩm và sự phát triển tự do của mỗi cá nhân.

Ðiều 23:

  1. Mọi người đều có quyền làm việc, quyền tự do chọn việc làm, quyền được hưởng các điều kiện làm việc chính đáng và thuận lợi đối với công việc, và quyền được bảo vệ chống thất nghiệp.
  2. Mọi người, không vì lý do kỳ thị nào, đều có quyền được hưởng lương bổng như nhau cho cùng một công việc.
  3. Mọi người làm việc đều được quyền hưởng thù lao một cách công bằng và thích hợp, khả dĩ bảo đảm cho bản thân và gia đình mình một cuộc sống xứng đáng với nhân phẩm, cũng như được trợ giúp nếu cần, qua các phương thức bảo vệ xã hội khác.
  4. Mọi người đều có quyền thành lập và tham gia vào các nghiệp đoàn, để bảo vệ quyền lợi của mình.

Ðiều 24: Mọi người đều có quyền nghỉ ngơi và giải trí, kể cả việc hạn chế hợp lý số giờ làm việc, và các ngày nghỉ định kỳ có trả lương.

Ðiều 25:

  1. Mọi người đều có quyền được hưởng một mức sống phù hợp với sức khỏe và sự no ấm cho bản thân và gia đình bao gồm: thực phẩm, quần áo, nhà ở, y tế và các dịch vụ xã hội cần thiết, quyền an sinh trong lúc thất nghiệp, đau ốm, tàn tật, góa bụa, tuổi già hay các tình huống thiếu thốn khác do các hoàn cảnh ngoài khả năng kiểm soát của mình.
  2. Các bà mẹ và trẻ con phải được hưởng sự chăm sóc và trợ giúp đặc biệt. Tất cả mọi trẻ con, sinh có hôn thú hay không, đều được xã hội bảo vệ một cách bình đẳng.

Ðiều 26:

  1. Mọi người đều có quyền được giáo dục. Giáo dục phải được miễn phí, ít nhất là ở bậc tiểu học và căn bản. Giáo dục tiểu học phải bắt buộc. Giáo dục kỹ thuật và chuyên nghiệp phải được mở rộng và giáo dục đại học phải được mở rộng bình đẳng cho mọi người, trên căn bản tài năng xứng đáng.
  2. Giáo dục phải được điều hướng để phát triển đầy đủ nhân cách, và củng cố sự tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do căn bản. Giáo dục phải nhằm cổ vũ sự cảm thông, lòng khoan dung, và tình hữu nghị giữa mọi quốc gia, mọi nhóm chủng tộc hoặc tôn giáo, và hỗ trợ việc phát triển các sinh hoạt của Liên Hiệp Quốc nhằm duy trì hòa bình.
  3. Cha mẹ có quyền ưu tiên chọn lựa phương cách giáo dục dành cho con cái mình.

Ðiều 27:

  1. Mọi người đều có quyền tự do tham gia sinh hoạt văn hóa cộng đồng, thưởng thức các bộ môn nghệ thuật, và cùng chia xẻ các tiến bộ khoa học cũng như các lợi ích của khoa học.
  2. Mọi người đều có quyền được bảo vệ về tác quyền, trên bình diện tinh thần cũng như quyền lợi vật chất, đối với các tác phẩm khoa học, văn chương, hay nghệ thuật.

Ðiều 28: Mọi người đều có quyền đòi hỏi được sống trong một trật tự xã hội và trật tự quốc tế, trong đó các quyền và các tự do được đề cập trong Bản Tuyên Ngôn này có thể được thể hiện đầy đủ.

Ðiều 29:

  1. Mọi người đều có bổn phận đối với cộng đồng nào mà chỉ trong đó mới có thể phát triển toàn vẹn và tự do nhân cách của mình.
  2. Trong việc hành xử nhân quyền và thụ hưởng tự do, mọi người chỉ phải chịu những hạn chế do luật định, và những hạn chế này chỉ nhằm mục tiêu bảo đảm sự thừa nhận và tôn trọng nhân quyền, và quyền tự do của những người khác, cũng như nhằm thỏa mãn những đòi hỏi chính đáng về luân lý, trật tự công cộng, và nền an sinh chung trong một xã hội dân chủ.
  3. Trong bất cứ trường hợp nào, nhân quyền và những quyền tự do này cũng không được hành xử trái với những mục tiêu và nguyên tắc của Liên Hiệp Quốc.

Ðiều 30: Không một điều nào trong Bản Tuyên Ngôn này được hiểu và hàm ý cho phép một nước, một nhóm hay một cá nhân nào được quyền có những việc làm hay hành động nhằm hủy diệt nhân quyền và tự do được thừa nhận trong bản Tuyên Ngôn này.

Liên Hiệp Quốc, ngày 10 tháng 12 năm 1948